Trong y học cổ truyền, thuốc không chỉ được phân loại theo thành phần dược liệu mà còn theo dạng bào chế và cách sử dụng, nhằm tối ưu hóa hiệu quả điều trị và phù hợp với từng thể bệnh cụ thể. Trải qua hàng nghìn năm thực hành lâm sàng, y học cổ truyền đã hình thành nhiều dạng thuốc phong phú, từ thuốc sắc truyền thống đến các dạng viên, cao, rượu, trà, đáp ứng linh hoạt nguyên tắc biện chứng luận trị. Việc hiểu rõ đặc điểm, ưu nhược điểm của từng dạng thuốc là nền tảng quan trọng để sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng người bệnh.
Thuốc thang sắc uống
Thuốc thang là dạng thuốc thái phiến, cho nước vừa đủ, đun sôi ở thời gian nhất định rồi chắt lấy nước thuốc để dùng. Thuốc sắc chủ yếu dùng để uống như bài Ma hoàng thang, Kỷ cúc địa hoàng thang... Ngoài ra, thuốc sắc còn dùng để ngâm, rửa, xông hoặc súc miệng.
Đặc điểm của thuốc sắc là hấp thu nhanh, sớm đạt hiệu quả điều trị và đặc biệt có thể căn cứ vào thay đổi của bệnh để gia giảm điều trị cho linh hoạt, phù hợp với chứng bệnh nặng hoặc diễn biến bệnh không ổn định, đáp ứng đầy đủ cho yêu cầu về biện chứng luận trị nên được ứng dụng rất rộng rãi trên lâm sàng
y học cổ truyền.
Thuốc sắc có điểm không thuận lợi: liều nước thuốc uống nhiều, một số thành phần có hiệu quả điều trị không dễ để chiết xuất hoặc dễ bị bay hơi khi sắc, thời gian sắc thuốc lâu nên không phù hợp trong bệnh cần xử lý cấp cứu, nước thuốc đắng nên bệnh nhi khó uống, không tiện cho việc mang theo để dùng.
Thuốc tán
Thuốc tán là tán nhỏ các vị thuốc, trộn đều với nhau, tùy theo mục đích sử dụng để uống hay dùng ngoài:
-
Thuốc dùng để uống thường nghiền thành bột mịn, dùng nước ấm để pha uống, nếu lượng ít thì pha uống trực tiếp như Thất lý tán, Hành xa tán... Có loại thuốc tán thô, sắc với nước, sau đó loại bỏ cặn bã để uống như Ngân kiều tán, Bại độc tán...
-
Thuốc tán dùng ngoài thường để đắp bề mặt tổn thương hoặc nơi bị bệnh như Kim hoàng tán, Sinh cơ tán...; hoặc để nhỏ mắt hay thổi vào họng như Bát ngọc nhãn dược, Băng bằng tán.
Đặc điểm của bài thuốc tán là cách chế đơn giản, dễ sử dụng, hấp thụ tương đối nhanh, tiết kiệm vị thuốc, tính chất thuốc tương đối ổn định, không dễ biến chất, tiện cho việc uống hay mang theo người.
Thuốc hoàn
Thuốc hoàn là các vị thuốc nghiền thành bột mịn hoặc tách chiết được chất, sau đó pha trộn chất kết dính tạo thành dạng viên thích hợp. Thuốc hoàn so với thuốc sắc thì hấp thụ chậm hơn, hiệu lực kéo dài hơn, tiết kiệm được dược liệu, thể tích nhỏ hơn, thuận lợi cho uống và mang theo. Thuốc hoàn thường dùng điều trị bệnh mạn tính, bệnh hư chứng, ví dụ: Lục vị địa hoàng hoàn, Hương sa lục quân hoàn... Có một số bài thuốc hoàn tính dược mạnh nhưng để điều trị từ từ như viên Thập táo hoàn, Để đương hoàn... Cũng có một số bài thuốc có thành phần là các vị thuốc cay thơm, dễ bay hơi khi sắc uống thì cũng làm thành viên hoàn như An cung ngưu hoàng hoàn, Tô hợp hương hoàn...
Các loại viên hoàn thường dùng:
-
Hoàn với mật ong: các vị thuốc tán bột mịn, trộn với chất dính là mật ong để làm thành viên hoàn to và viên hoàn nhỏ. Viên hoàn mật có tính chất là nhu nhuận, tác dụng chậm và kéo dài, đồng thời có tác dụng bổ ích và dễ uống, thường dùng để điều trị bệnh mạn tính, bệnh hư nhược, ví dụ: Lý trung hoàn, Lục vị địa hoàng hoàn...
-
Hoàn với nước: các vị thuốc tán bột mịn, hòa với nước, rượu, giấm, nước mật ong, nước thuốc sắc để tạo viên hoàn nhỏ. Thuốc hoàn nước so với thuốc hoàn mật thì tính chất kết dính lỏng lẻo, dễ tan nên hấp thu nhanh, dễ uống; thường dùng để điều trị nhiều loại bệnh. Ví dụ: Phòng phong thông thánh hoàn, Tả kim hoàn...
-
Hoàn với hồ: các vị thuốc tán mịn, dùng hồ bột gạo, bột mì,
-
bột men làm chất kết dính để tạo viên hoàn nhỏ. Chất kết dính trong viên hoàn hồ là tương đối tốt nên viên hoàn hồ thường cứng, lâu tan hơn, khi uống thì tác dụng kéo dài hơn, giảm tác dụng phụ không mong muốn, giảm kích thích đối với tỳ vị. Ví dụ: Đan xa hoàn...
-
Hoàn cô đặc: lấy một phần của các vị thuốc hoặc bài thuốc sắc chiết rồi cô đặc thành dạng cao lỏng, sau đó trộn đều với các vị thuốc còn lại đã tán bột mịn thành dạng khô, bột thô. Sau đó, tiếp tục trộn với mật ong hoặc nước hoặc nước sắc thuốc để thành viên hoàn. Loại hoàn này có hàm lượng thuốc đạt hiệu quả cao, thể tích nhỏ, liều uống nhỏ, dễ uống nên thích hợp điều trị nhiều loại bệnh.
Thuốc cao
Thuốc cao là sắc các vị thuốc với nước hoặc dầu thực vật, bỏ tạp chất rồi chế thành dạng cao; có hai loại là cao để uống và cao để bôi ngoài. Cao dùng ngoài có loại cao nhuyễn và cao cứng. Loại cao mềm, cao dẻo thường phối hợp với cách thức khác để sử dụng như dạng siro, thuốc ngâm uống, thuốc viên nén...
Loại cao lỏng và cao dùng ngoài:
-
Cao lỏng: đun dược liệu với nước nhiều lần đến khi đạt yêu cầu, bỏ chất cặn bã và cô đặc thích hợp thành cao lỏng, tiếp tục đun với mật ong hoặc đường thành dịch cô đặc (lượng đường hay mật ong không được vượt quá 03 lần cao lỏng). Đặc điểm của dịch cô đặc là thể tích nhỏ, hàm lượng cao, dễ uống, vị ngọt thơm, có tác dụng tư nhuận bổ ích nên dùng để điều trị bệnh hư nhược mạn tính, cần dùng lâu dài như Bát trân ích mẫu cao...
-
Cao nhuyễn: các vị thuốc tán mịn, phối hợp với tá dược có độ kết dính thích hợp (dạng dầu, dạng mỡ, dạng nước) để thành cao mềm dùng ngoài; trong đó, nếu dùng tá dược là dạng mỡ thì gọi là thuốc mỡ. Nhuyễn cao thường dùng để bôi ngoài da, niêm mạc hay bề mặt tổn thương; có tính đặc quánh và dính, sau khi bôi thì mềm dần và tan ra, làm cho thuốc dần dần được hấp thụ, thời gian tác dụng kéo dài, thường dùng để điều trị mụn nhọt, vết thương bỏng. Ví dụ: thuốc mỡ chữa bỏng Maduxin (cao sến, tá dược), kem giảm đau Atapain (dầu đà điểu, tinh dầu hương nhu, tinh dầu tràm...).
-
Cao cứng: dùng dầu thực vật, sắc cùng với thuốc đến một mức độ nhất định, loại bỏ cặn bã, tiếp tục đun đến khi nhỏ được thành giọt, rồi quấy đều với lượng thích hợp oxyt chì (tuân thủ nghiêm ngặt quy cách bào chế vì có độc )..., sau đó làm lạnh để thành cao cứng. Khi dùng thì làm nóng cao lên rồi phết lên miếng vải hoặc miếng giấy đắp nơi tổn thương hoặc đắp vùng huyệt. Ưu điểm của cao cứng là thời gian tác dụng kéo dài, dễ sử dụng, dễ mang theo để điều trị bệnh tại chỗ hoặc toàn thân như mụn nhọt nhiễm trùng, chấn thương sưng nề, viêm khớp, đau lưng, đau bụng nội khoa... Ví dụ: Cẩu bì cao, Noãn tề cao.
Rượu thuốc
Rượu thuốc là các vị thuốc được ngâm với rượu vừa đủ hoặc được chưng cách thủy, loại bỏ cặn bã, thu lấy dịch thuốc để uống hoặc dùng ngoài. Rượu thuốc có tác dụng hoạt huyết thông lạc, có đặc tính dễ phát tán và tăng cường hiệu quả thuốc nên thường dùng để khứ phong thông lạc, bổ ích tạng phủ như rượu thuốc ngũ gia bì, rượu thuốc ba kích... Rượu thuốc dùng để bôi ngoài thường có tác dụng khứ phong hoạt huyết, chỉ thống tiêu thũng.
Thuốc đan
Thuốc đan là một loại thuốc không cố định. Thuốc đan để dùng ngoài và có loại dùng để uống. Thuốc đan để uống có viên hoàn và cũng có cả thuốc tán. Người ta căn cứ vào tác dụng của bài thuốc hoặc tên vị thuốc quý để đặt tên thuốc như Chí bảo đan, Hoạt lạc đan. Thuốc đan dùng ngoài gọi là đan dược, cấu tạo từ các khoáng chất được nung nóng thăng hoa để tạo nên các chế phẩm có nhiều hình dạng khác nhau.
Thuốc đan dùng ngoài dạng đơn chất như Tiêu thạch đan, Hùng hoàng đan, Bạch phàn đan...; dạng hỗn hợp với chất khác như Hồng thăng đan, Bạch giáng đan, Tam tiên đan, Cửu nhất đan.
Thuốc đan để uống thường không cố định hình dạng: thuốc dạng tán như Tử tuyết đan, dạng hoàn với mật như Đại hoạt lạc đan, hòa với nước như Mai hoa điểm thiệt đan, hoàn hồ làm viên như Nhân đan, Tiểu kim đan...
Thuốc dạng trà
Thuốc dạng trà: các vị thuốc đem tán nhỏ hoặc trộn với chất kết dính để thành dạng viên nhỏ. Khi dùng thì hãm với nước sôi hoặc đun sôi để uống, có thể uống lúc nào cũng được, thường dùng dạng trà thuốc để điều trị bệnh cảm mạo, thực tích, đi lỏng. Gần đây có nhiều dạng trà thuốc dùng để nâng cao thể trạng, giảm béo, tăng tuần hoàn não, an thần... Ví dụ: trà sâm tam thất, trà tam thất trà giảm béo, trà thảo dược Tanaka (cây đỏ ngọn).
Thuốc dạng thỏi
Thuốc dạng thỏi là các vị thuốc tán mịn, trộn thích hợp chất kết dính để tạo thành hình dạng theo quy định như dạng hình trụ, dạng hình thoi... Thuốc dạng này có thể dùng đường uống và để dùng ngoài. Khi dùng đường uống thì nghiền nhỏ hoặc mài thành nước đặc, khi dùng để bôi ngoài thì mài thành dạng nước đặc bôi lên chỗ tổn thương, ví dụ: Tử kim đĩnh, Vạn ứng đĩnh...
Thuốc thoa bôi
Thuốc thoa bôi là dung dịch gồm thuốc phối hợp với dung môi
thích hợp để dạy thoa trên bề mặt da, hoặc phết lên băng gạc để dán tổn thương hoặc ở dạng huyền phù, dạng nhũ tương. Dạng thuốc này thường có tác dụng bảo vệ da và giảm đau, tiêu viêm, giảm kích ứng, ví dụ: dầu xoa Tùng tiết, dầu Long não.
Thuốc đạn
Thuốc đạn là các vị thuốc tán mịn, phối hợp chất kết dính để tạo thành hình dạng nhất định, thường dùng để đặt ở hậu môn, âm đạo. Thuốc có tác dụng diệt giun, giảm ngứa, nhuận táo để thông đại tiện, thu liễm, cầm máu, tiêu viêm... Đặc điểm của thuốc đạn là được hấp thu qua trực tràng, niêm mạc âm đạo nên 50 - 70% thuốc không qua gan mà vào thẳng đại tuần hoàn. Vì vậy, cách dùng này giảm thiểu được độc tính và tác dụng phụ đối với gan, tránh ảnh hưởng của dịch vị tiêu hóa với thuốc, tránh kích thích niêm mạc dạ dày. Thuốc dạng này tiện lợi dùng cho trẻ em, ví dụ: viên đạn giải nhiệt, viên đạn tiêu trĩ…
Thuốc pha uống
Thuốc pha là các vị thuốc tách chiết, trộn với tá dược vừa đủ chế thành dạng bột đông khô hoặc viên nhỏ, khi dùng thì pha với nước sôi để uống.
Thuốc pha uống có đặc điểm hấp thu nhanh, hợp khẩu vị, thể tích ít, dùng thuận tiện; ví dụ: thuốc bột cảm mạo thoái nhiệt, chè sâm tan...
Thuốc viên nén
Thuốc viên nén là các vị thuốc tán mịn hoặc được tách chiếttính dược, kết hợp tá dược rồi dùng áp lực để ép thành viên. Thuốc viên có liều lượng chuẩn xác, thể tích nhỏ. Những vị thuốc có vị đắng hoặc có mùi khó uống thìđược bao viên bằng đường nên dễ uống. Nếu cần phải đưa thuốc đến tận đại tràng mới hấp thu thì dùng bao viên chỉ tan ở môi trường đại tràng. Ngoài ra, còn có dạng viên ngậm dưới lưỡi, viên sủi...
Viên nang
Viên nang cứng là dùng các vị thuốc được tách chiết với liều nhất định, phối hợp với thuốc tán mịn hoặc các chất bổ rồi cho vào lòng nang cứng tạo viên hoặc chỉ là các vị thuốc tán mịn rồi cho vào trộn đều lòng viên nang cứng tạo viên. Ví dụ: viên nang Rotunda, viên nang Toàn thiên ma, viên nang Ích trí kiện não (đương quy, ngưu tất, đan sâm, sinh địa, ích mẫu, xuyên khung, câu đằng).
Viên nang mềm là các vị thuốc đã được tách chiết, dùng phương pháp nhỏ giọt, phương pháp áp lực chế thành dạng dung dịch, dạng bột và dạng hạt. Viên nang mềm có bề ngoài bóng trơn, dễ uống, mùi vị thuốc không ảnh hưởng đến người uông, các chất tách chiết có tính ổn định nên là một trong những dạng viên thuốc lý tưởng. Ví dụ: Ma nhân nhuyễn giao nang, Vân hương du giao hoàn, viên nang mềm Tỏi đen - sâm ngọc linh (cao tỏi đen, cao sâm ngọc linh, vitamin...), viên nang mềm Sâm ngọc linh (cao sâm ngọc linh, vitamin...).
Thuốc tiêm
Thuốc tiêm là các vị thuốc, bài thuốc được tách chiết, tinh chế chọn lọc tạo thành dịch vô khuẩn, dùng để tiêm bắp hay truyền tĩnh mạch.
Thuốc tiêm có liều lượng chính xác, hiệu lực nhanh, không bị ảnh hưởng bởi hệ thống tiêu hóa. Hiện nay, Trung Quốc có rất nhiều thành phẩm thuốc tiêm như dịch tiêm Đan sâm, dịch tiêm Cát căn, dịch tiêm Sinh mạch... Ở Việt Nam hiện nay, một số bệnh viện cũng đã dùng dịch truyền sản xuất ở dạng bột đông khô pha tiêm truyền.
BS Nguyễn Văn Biên (Thọ Xuân Đường)